MindMap Gallery Kỹ Thuật Dạy Học (KTDH) và Các Phương Pháp Tiếp Cận
Sơ đồ tư duy này, được tạo bằng EdrawMind, khái quát các kỹ thuật dạy học (KTDH) và các phương pháp tiếp cận đa dạng. Nó bao gồm các kỹ thuật như "chia sẻ nhóm", "luận ung hồ hàn đới", "các mạnh ghép", "tiếp cận", "công bố", "hoàn tất một nhiệm vụ", "3 lân", "độc tịch cục", "phong trần", và "day học bằng số đối tượng". Mỗi kỹ thuật được giải thích với mục đích, ưu điểm, và các bước thực hiện, giúp giáo viên thiết kế các hoạt động dạy học hiệu quả và tương tác.
Edited at 2023-08-30 04:49:41Sơ đồ tư duy này, được tạo bằng EdrawMind, trình bày các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) và các khía cạnh liên quan như lý thuyết, giải quyết vấn đề, chương trình hành động, và các đặc điểm. Nó phân tích từ mục tiêu cụ thể, giải quyết các vấn đề như đói nghèo, bình đẳng giới, và môi trường, đồng thời đề xuất các giải pháp và hành động cần thiết. Sơ đồ giúp hiểu rõ hơn về cách các mục tiêu này tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau trong việc thúc đẩy phát triển bền vững toàn cầu.
Sơ đồ tư duy này, được tạo bằng EdrawMind, khái quát các kỹ thuật dạy học (KTDH) và các phương pháp tiếp cận đa dạng. Nó bao gồm các kỹ thuật như "chia sẻ nhóm", "luận ung hồ hàn đới", "các mạnh ghép", "tiếp cận", "công bố", "hoàn tất một nhiệm vụ", "3 lân", "độc tịch cục", "phong trần", và "day học bằng số đối tượng". Mỗi kỹ thuật được giải thích với mục đích, ưu điểm, và các bước thực hiện, giúp giáo viên thiết kế các hoạt động dạy học hiệu quả và tương tác.
Sơ đồ tư duy này, được tạo bằng EdrawMind, trình bày các kỹ thuật dạy học (KTDH) đa dạng như "Chia sẻ nhóm" (Think, Pair, Share), "Động não", "Ô bi", "Phong trần", "Các mạnh ghép", "KWL", và "Số hóa tư duy". Mỗi kỹ thuật được giải thích với mục đích, cách thực hiện, và lợi ích, giúp giáo viên thiết kế các hoạt động dạy học tương tác, kích thích tư duy học sinh, và nâng cao hiệu quả giảng dạy.
Sơ đồ tư duy này, được tạo bằng EdrawMind, trình bày các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) và các khía cạnh liên quan như lý thuyết, giải quyết vấn đề, chương trình hành động, và các đặc điểm. Nó phân tích từ mục tiêu cụ thể, giải quyết các vấn đề như đói nghèo, bình đẳng giới, và môi trường, đồng thời đề xuất các giải pháp và hành động cần thiết. Sơ đồ giúp hiểu rõ hơn về cách các mục tiêu này tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau trong việc thúc đẩy phát triển bền vững toàn cầu.
Sơ đồ tư duy này, được tạo bằng EdrawMind, khái quát các kỹ thuật dạy học (KTDH) và các phương pháp tiếp cận đa dạng. Nó bao gồm các kỹ thuật như "chia sẻ nhóm", "luận ung hồ hàn đới", "các mạnh ghép", "tiếp cận", "công bố", "hoàn tất một nhiệm vụ", "3 lân", "độc tịch cục", "phong trần", và "day học bằng số đối tượng". Mỗi kỹ thuật được giải thích với mục đích, ưu điểm, và các bước thực hiện, giúp giáo viên thiết kế các hoạt động dạy học hiệu quả và tương tác.
Sơ đồ tư duy này, được tạo bằng EdrawMind, trình bày các kỹ thuật dạy học (KTDH) đa dạng như "Chia sẻ nhóm" (Think, Pair, Share), "Động não", "Ô bi", "Phong trần", "Các mạnh ghép", "KWL", và "Số hóa tư duy". Mỗi kỹ thuật được giải thích với mục đích, cách thực hiện, và lợi ích, giúp giáo viên thiết kế các hoạt động dạy học tương tác, kích thích tư duy học sinh, và nâng cao hiệu quả giảng dạy.
KTDH
Kỹ thuật “Chia sẻ nhóm đôi” (Think, Pair, Share)
Với kỹ thuật này, thay vì sử dụng các dụng cụ hỗ trợ, các em học sinh sẽ được phát triển kỹ năng nghe và nói của mình.
Ưu điểm: Sau khi tham gia, học sinh sẽ biết lắng nghe và tóm tắt ý của bạn cùng nhóm để có thể phát triển được những câu trả lời tốt nhất.
Hạn chế: Học sinh có thể nói chuyện riêng với nhau về những nội dung không liên quan đến bài học.
KỸ THUẬT TRANH LUẬN ỦNG HỘ- HẢN ĐỐI
là một kỹ thuật dùng trong thảo luận, trong đó đề cập về một chủ đề có chứa đựng xung đột.
Những ý kiến khác nhau và những ý kiến đối lập được đưa ra tranh luận nhằm mục đích xem xét chủ đề dưới nhiều góc độ khác nhau.
Mục tiêu của tranh luận không phải là nhằm “đánh bại” ý kiến đối lập mà nhằm xem xét chủ đề dưới nhiều phương diện khác nhau.
KỸ THUẬT NÓI CÁCH KHÁC
GV chia HS thành các nhóm, yêu cầu các nhóm hãy liệt kê ra giấy khổ lớn 10 điều không hay mà thỉnh thoảng người ta vẫn nói về một ai đó/việc gì đó
– Tiếp theo, yêu cầu các nhóm hãy tìm 10 cách hay hơn để diễn đạt cùng những ý nghĩa đó và tiếp tục ghi ra giấy khổ lớn.
– Các nhóm trình bày kết quả và cùng nhau thảo luận về ý nghĩa của việc thay đổi cách nói theo hướng tích cực
KỸ THUẬT ĐỘNG NÃO
Là kỹ thuật nhằm huy động những tư tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong nhóm cùng thảo luận. Các thành viên tham gia một cách tích cực nhằm tạo ra “cơn lốc” ý tưởng.
Ưu điểm: Dễ thực hiện, không mất nhiều thời gian. Huy động mọi ý kiến của thành viên, tập trung trí tuệ. Khuyến khích các thành viên nhóm tham gia hoạt động.
Hạn chế: Dễ xảy ra tình trạng lạc đề nếu chủ đề không rõ ràng. Mất thời gian cho việc lựa chọn các ý kiến tốt nhất. Có tình trạng một số thành viên quá năng động nhưng một số khác không tham gia. Lưu trữ kết quả thảo luận khá khó khăn và lãng phí.
KỸ THUẬT BỂ CÁ
Kỹ thuật “Bể cá” thường dùng để thảo luận nhóm, học sinh sẽ ngồi thành một nhóm và thảo luận với nhau. Số học sinh còn lại trong lớp ngồi xung quanh theo vòng bên ngoài để theo dõi cuộc thảo luận và khi kết thúc thảo luận sẽ đưa ra những nhận xét về cách ứng xử của những học sinh thảo luận. Vì những người ngồi vòng ngoài có thể quan sát những người thảo luận như xem những con cá trong bể cá nên được gọi là phương pháp thảo luận “bể cá”.
Ưu điểm: Kỹ thuật này vừa giải quyết được vấn đề vừa phát triển kỹ năng quan sát và giao tiếp của học sinh.
Hạn chế: Yêu cầu phải có không gian tương đối rộng. Trong quá trình thảo luận cần có thiết bị âm thanh, hoặc phải nói to để mọi người nghe rõ. Những thành viên nhóm quan sát rất dễ có xu hướng không tập trung vào chủ đề thảo luận.
KỸ THUẬT “Ổ BI”
Đây là một kỹ thuật dùng trong thảo luận nhóm, trong đó HS chia thành hai nhóm ngồi theo hai vòng tròn đồng tâm như hai vòng của một ổ bi và đối diện nhau để tạo điều kiện cho mỗi HS có thể nói chuyện với lần lượt các HS ở nhóm khác.
Cách thực hiện: Khi thảo luận, mỗi HS ở vòng trong sẽ trao đổi với HS đối diện ở vòng ngoài, đây là dạng đặc biệt của phương pháp luyện tập đối tác; Sau một ít phút thì HS vòng ngoài ngồi yên, HS vòng trong chuyển chỗ theo chiều kim đồng hồ, tương tự như vòng bi quay, để luôn hình thành các nhóm đối tác mới.
KỸ THUẬT PHÒNG TRANH
Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm.
GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm. Mỗi thành viên (hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh.
HS cả lớp đi xem “ triển lãm’’và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung. Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm phương án tối ưu.
DẠY HỌC BẰNG SƠ ĐỒ TƯ DUY
Kỹ thuật sơ đồ tư duy được đánh giá rất cao. Vì với cách học bằng sơ đồ, các em học sinh sẽ dùng đến màu sắc và hình ảnh để mở rộng cũng như đào sâu các kiến thức, ý tưởng để ghi chép lại bài học.
Ưu điểm: Đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với nhiều đối tượng khác nhau, giúp học sinh nắm kiến thức nhanh hơn.
Hạn chế: Với kỹ thuật sử dụng sơ đồ này, cần sử dụng giấy nên khó lưu trữ, thay đổi, chỉnh sửa cũng như tốn kém chi phí.
KỸ THUẬT DẠY HỌC KWL (KWLH)
Các em học sinh sẽ bắt đầu bằng việc suy nghĩ và thể hiện những gì đã biết về chủ đề bài đọc và thông tin này sẽ được ghi vào cột K (What we Know) của biểu đồ. Sau đó, học sinh trình bày câu hỏi về những điều các em muốn biết thêm trong chủ đề này tại cột W (What we Want to learn). Tiếp đó, học sinh sẽ tự trả lời cho tất cả câu hỏi ở cột W và trình bày vào cột L (What we Learn). Cột H (How can we learn more) được bổ sung vào biểu đồ nhằm mục đích định hướng nghiên cứu cho học sinh.
Ưu điểm: Kích thích sự hứng thú của học sinh trong học tập, làm tăng khả năng định hướng và tự đánh giá cho mỗi cá nhân.
Hạn chế: Thời gian thực hành lâu vì khi học sinh hoàn tất bước K và W, các bạn phải mất thêm một khoảng thời gian mới thực hiện được bước L.
KỸ THUẬT KHĂN TRẢI BÀN
Kỹ thuật khăn trải bàn cũng là phương pháp dạy học tích cực tổ chức hoạt động mang tính kết hợp giữa hoạt động cá nhân với hoạt động nhóm nhằm: + Thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh + Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh + Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với nhau
Ưu điểm: Tăng cường tính độc lập và trách nhiệm của người học.
Hạn chế: Tốn kém chi phí và khó lưu trữ, sửa chữa kết quả.
KỸ THUẬT “CÁC MẢNH GHÉP”
Kỹ thuật “Các mảnh ghép” là hình thức học tập kết hợp giữa cá nhân với nhóm và các nhóm với nhau nhằm: Cùng nhau giải quyết một nhiệm vụ có nhiều chủ đề Khuyến khích sự tham gia tích cực của học sinh Nâng cao vai trò cá nhân trong quá trình hợp tác (Mỗi cá nhân không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2)
Ưu điểm: Phát triển tinh thần làm việc theo nhóm. Phát huy trách nhiệm của từng cá nhân. Giúp học sinh phát huy hiểu biết và giải quyết những hiểu biết lệch lạc. Giúp đào sâu kiến thức trong các lĩnh vực.
Hạn chế: Kết quả phụ thuộc vào quá trình thảo luận ở vòng 1, nếu vòng thảo luận này không có chất lượng thì cả hoạt động sẽ không có hiệu quả. Số lượng thành viên trong nhóm rất dễ không đồng đều. Không thể sử dụng kỹ thuật này cho các nội dung thảo luận có mối quan hệ ràng buộc nhân quả với nhau.
KỸ THUẬT “TIA CHỚP”
Kỹ thuật tia chớp sẽ huy động sự tham gia của mọi thành viên vào một câu hỏi nào đó nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí học tập trong lớp học. Yêu cầu các thành viên lần lượt trả lời thật nhanh và ngắn gọn ý kiến của mình.
Kỹ thuật có thể áp dụng tại bất cứ thời điểm nào khi các thành viên thấy cần thiết và đề nghị. Từng người một nói ra suy nghĩ của mình thật nhanh và ngắn gọn khoảng 1-2 câu về câu hỏi đã thoả thuận. Tiến hành thảo luận khi tất cả đã nói xong ý kiến.
KỸ THUẬT "CÔNG ĐOẠN"
Các nhóm đọc và góp ý kiến bổ sung cho nhóm bạn. Sau đó lại tiếp tục luân chuyển kết quả cho nhóm tiếp theo và nhận tiếp kết quả từ một nhóm khác để góp ý.
Đặc điểm
Các nhóm đọc và góp ý kiến bổ sung cho nhóm bạn. Sau đó lại tiếp tục luân chuyển kết quả cho nhóm tiếp theo và nhận tiếp kết quả từ một nhóm khác để góp ý. - Cứ như vậy cho đến khi các nhóm đã nhận lại được tờ giấy A0 của nhóm mình cùng với các ý kiến góp ý của các nhóm khác.
KỸ THUẬT HOÀN TẤT MỘT NHIỆM VỤ
– GV đưa ra một câu chuyện/một vấn đề/một bức tranh/một thông điệp/… mới chỉ được giải quyết một phần và yêu cầu HS/nhóm HS hoàn tất nốt phần còn lại.
– HS/nhóm HS thực hiện nhiệm vụ được giao.
– HS/ nhóm HS trình bày sản phẩm. – GV hướng dẫn cả lớp cùng bình luận, đánh giá
– GV hướng dẫn cả lớp cùng bình luận, đánh giá
KỸ THUẬT "3 LẦN 3"
– GV nêu chủ đề cần thảo luận.
– Chia HS thành các nhóm 3 người và yêu cầu HS thảo luận trong vòng 10 phút về những gì mà các em biết về chủ đề này.
– HS thảo luận nhóm và chọn ra 3 điểm quan trọng nhất để trình bày với cả lớp.
– Mỗi nhóm sẽ cử một đại diện lên trình bày về cả 3 điểm nói trên.
KỸ THUẬT ĐỌC TÍCH CỰC
Kĩ thuật này nhằm giúp HS tăng cường khả năng tự học và giúp GV tiết kiệm thời gian đối với những bài học/phần đọc có nhiều nội dung nhưng không quá khó đối với HS.
Cách tiến hành như sau: – GV nêu câu hỏi/yêu cầu định hướng HS đọc bài/phần đọc. – HS làm việc cá nhân: + Đoán trước khi đọc: Để làm việc này, HS cần đọc lướt qua bài đọc/phần đọc để tìm ra những gợi ý từ hình ảnh, tựa đề, từ/cụm từ quan trọng. + Đọc và đoán nội dung : HS đọc bài/phần đọc và biết liên tưởng tới những gì mình đã biết và đoán nội dung khi đọc những từ hay khái niệm mà các em phải tìm ra. + Tìm ý chính: HS tìm ra ý chính của bài/phần đọc qua việc tập trung vào các ý quan trọng theo cách hiểu của mình. + Tóm tắt ý chính. – HS chia sẻ kết quả đọc của mình theo nhóm 2, hoặc 4 và giải thích cho nhau thắc mắc (nếu có), thống nhất với nhau ý chính của bài/phần đọc đọc. – HS nêu câu hỏi để GV giải đáp (nếu có).
KỸ THUẬT VIẾT TÍCH CỰC
Trong quá trình thuyết trình, GV đặt câu hỏi và dành thời gian cho HS tự do viết câu trả lời. GV cũng có thể yêu cầu HS liệt kê ngắn gọn những gì các em biết về chủ đề đang học trong khoảng thời gian nhất định.
GV yêu cầu một vài HS chia sẻ nội dung mà các em đã viết trước lớp.
Kĩ thuật này cũng có thể sử dụng sau tiết học để tóm tắt nội dung đã học, để phản hồi cho GV về việc nắm kiến thức của HS và những chỗ các em còn hiểu sai.